Lịch sử Việt Nam


Trang chủ
07/09/2010
Lịch sử Việt Nam
Trang chủ
Tin tức
Lược sử tóm tắt
Diễn đàn
Ảnh lịch sử
Chuyên đề
Sự kiện
Nhân vật
Hiện vật
Địa danh, di tích, kiến trúc
Hồi ký
Cổ sử
Đại Việt sử ký toàn thư
Huyền sử, dã sử
Thư viện
Download
Âm mưu, hành động xâm lấn Hoàng Sa... E-mail
26/01/2008

Một số âm mưu và hành động xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa của Trung Quốc trong quá khứ

Với diện tích khoảng gần 3,5 triệu km2 và với 9 nước nằm xung quanh, biển Đông là một trong những biển lớn nhất thế giới. Trên biển Đông có nhiều tuyến giao thông hàng hải, hàng không quan trọng giữa châu Á và châu Âu, giữa nhiều khu vực quan trọng của châu Á. Biển Đông còn là địa bàn quân sự chiến lược quan trọng không những đối với tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á mà còn là địa bàn chiến lược bản lề giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Trên biển Đông có 3 quần đảo: Đông Sa, Hoàng Sa, Trường Sa và một bãi ngầm (bãi này chưa đủ tiêu chuẩn một quần đảo, tên gọi quốc tế là bãi Maccles Field).

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn là lãnh thổ của Việt Nam từ lâu đời. Nằm trên một vùng biển rộng lớn (vùng Hoàng Sa rộng khoảng 13.000 km2, vùng Trường Sa rộng khoảng 18.000 km2), ở vào một vị trí chiến lược trọng yếu trên biển Đông chỉ cách bờ biển Việt Nam khoảng 120-250 hải lý, lại được các nhà khoa học thế giới đánh giá sơ bộ là có nhiều dầu khí, nên hai quần đảo có vai trò rất quan trong đối với việc phòng thủ cũng như việc xây dựng, phát triển kinh tế của Việt Nam.

Vì thế với chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc, biển Đông chính là một mục tiêu trước mắt trong chiến lược toàn cầu của Bắc Kinh.

Bản đồ “Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc phân tỉnh tinh đồ” xuất bản năm 1950 đã vẽ trong một phụ đồ cả ba quần đảo trên biển Đông và bãi ngầm Maccles Field (mà Trung Quốc gọi là Trung Sa) và thể hiện đường biên giới của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ôm lấy cả biển Đông (các bản đồ xuất bản sau này ghi rõ đường biên giới đó là “quốc giới”. Đường biên giới này được vạch xuống đến tận vĩ tuyến 40 bắc cách đảo Hải Nam của Trung Quốc gần 2000km và chỉ cách lãnh thổ Malaysia chưa đầy 40km, cách bờ biển Philipine và Việt Nam từ 70-80km. Theo đường biên giới này thì Trung Quốc làm chủ khoảng 80% biển Đông.

Đọc tiếp...
 
Hoàng Lê nhất thống chí (hồi 14) E-mail
14/01/2008
Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận
Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài


Lại nói, Tôn Sỹ Nghị sau khi đem quân ra cửa ải, xuyên rừng vượt núi, như giẫm đất bằng; ngày đi đêm nghỉ, không phải lo lắng gì, kéo thẳng một mạch đến thành Thăng Long, không mất một mũi tên, như vào chỗ không người. Từ xưa, các nhà cầm quân chưa có khi nào được dễ dàng như thế. Cho nên y xem thường, cho là vô sự, không cần phải đề phòng. Rồi đó, y lại càng thêm kiêu căng, buông tuồng, mặc cho quân lính các đồn tự tiện bỏ cả đội ngũ, đi lại lang thang, không còn có kỷ luật gì cả. Có kẻ đi ra khỏi thành đến hơn mười dặm, để kiếm củi đun, có kẻ đi tới các chợ búa dân gian để buôn bán, hàng ngày sớm đi tối về xem như việc bình thường. Bọn tướng tá cũng ngày ngày chơi bời tiệc tùng, không hề để ý gì đến việc quân. Hễ ai nhắc đến tình hình giặc giã thì bọn họ đáp rằng:

"Chúng nó như cá chậu chim lồng, còn chút hơi thừa thoi thóp, không đáng nói đến. Vâng lệnh của quan lớn đốc bộ, định đến ngày mùng 6 tháng giêng, nhân dịp đầu xuân sẽ xuất quân kéo thẳng đến sào huyệt của quân Tây Sơn. Bọn giặc ấy nhất định sẽ lần lượt bị bắt sống không một tên nào lọt lưới. Người Nam Hà sẽ đến mà xem!".

Thế là người trong nước, kể cả các viên quan đã từng trốn tránh hồi xưa mà bấy giờ đã được thấy lại bóng mặt trời, ai nấy mới đều yên tâm vui mừng về cuộc sum họp trước mắt. Rồi họ dựa vào tổng đốc họ Tôn làm bức trường thành, không còn nghĩ gì đến việc cung khuyết bị tàn hoang, không còn lo gì đến việc kẻ địch đang ở nơi cửa ngõ; võ lặng, văn im, thảy đều bệ trễ.

Vừa lúc ấy, có người cung nhân cũ từ phủ Trường Yên tới, nói với thái hậu rằng:

- Xe vua trở về kinh thành, đã gần một tháng. Hiệu lệnh ban ra, chẳng qua mới đến các vùng Ứng Hoà, Thường Tín, Từ Sơn, Thuận Thành, Quảng Oai, năm lộ mà thôi. Còn như từ Trường Yên về nam, Thanh Hóa là đất căn bản, lăng tẩm tiền triều ở đó, Nghệ An cũng là quận chân tay, quân cấm và quân túc trực đều lấy người ở đấy, thì nay vẫn bị mất về tay giặc, tin tức không thông, đó thật là điều đáng lo rất lớn. Hiện nay, việc nước hư thực thế nào, thế giặc mạnh yếu ra sao, những người đứng ngoài mà xem, không ai không biết. Trước đây, hoàng thượng gặp nạn phải chạy, các quan trèo đèo vượt suối, khó nhọc vất vả đã hơn một năm, bao nhiêu nhân tình chắc đã từng trải hết rồi, sao vẫn điềm nhiên không lo nghĩ gì cả? Tổng đốc họ Tôn từ thượng quốc tới đây, thế nước và tình hình của giặc chỉ biết đại khái. Đến như các miền, cũng có nơi xung yếu, noi bình thường, chia đồn và mai phục, cần phải trù tính kỹ càng. Việc binh có lúc nên đánh, lúc nên giữ, phải tuỳ cơ ứng biến trong chốc lát. Tất cả những điều ấy, họ làm sao mà hiểu được rõ ràng, đích xác? Vả chăng, khi trước Lê Quýnh khai báo ở bên ấy, nói rằng: "Nhiều nơi trong nước ta không chịu theo giặc, người chuộng nghĩa còn nhiều, lòng người cũng có thể trông cậy, nếu được đại binh sang làm thanh viện thì công việc khôi phục có thể thành...". Đó chỉ là một cách nói, để tổng đốc họ Tôn không cho việc ấy là khó. Quýnh vì muốn chóng được quân sang cứu, cho nên mới bịa ra lời nói hão để lừa dối họ. Họ cũng tưởng là thật, hăng hái tiến lên, không còn lo nghĩ gì về sau. Cứ xem lời lẽ trong bài hịch, thì những điều họ bắt buộc mình phải đương lấy, rất là nặng nề; còn họ thì chỉ lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế suông để doạ dẫm mà thôi. Không biết rằng, Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỉ thần, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Thấy hắn trỏ tay, đưa mắt, là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sợ sấm sét. E rằng chẳng mấy lâu nữa, hắn lại trở ra, tổng đốc họ Tôn đem thứ quân nhớ nhà kia mà chống chọi, thì địch sao cho nổi? Họ chẳng qua chỉ là người khách, chuyến này sang cũng cốt xem sự thế khó hay dễ để liệu bề tiến lui mà thôi. Nhưng còn nhà nước của ta thì sao? Thái hậu có thể chạy sang đất Trung Hoa một chuyến nữa chăng?

Thái hậu giật mình nói:

- Đó chính là tâm sự của gái già này, vẫn ngày đêm lo lắng mà chưa biết làm thế nào?

Rồi nhân tiện, thái hậu đem việc đó nói lại với vua. Bấy giờ nhà vua mới hoảng sợ, liền cùng bọn Quýnh đến doanh quân của Nghị tha thiết xin xuất quân. Nghị gọi Quýnh đến mà căn vặn rằng:

- Người nước mày nay quả thật không thể trông cậy được, thế thì lời cung khai của mày trước đây ra sao? Dám lừa dối ta chăng?

Rồi Nghị ngoảnh sang bảo vua:

- Tự vương trẻ tuổi, chưa từng trải công việc, trước đây tới đón chào ta ở Lạng Sơn, sao không nói cho rõ? Bấy giờ, nhân khi ta thắng, đè bẹp ngay lúc chúng đang khốn đốn, há chẳng dễ dàng hơn hay sao? Nay đã bỏ lỡ cơ hội ấy, để chúng có thì giờ thong thả mà bày mưu đặt chước, cách trị chúng cần phải tính toán cho chu đáo, không thể hấp tấp. Vả lại, đã định đến sang xuân, vào ngày mùng sáu thì sẽ xuất quân, như vậy cũng không còn xa gì nữa. Nếu muốn đi gấp thì cho phép vua tôi nhà ngươi đem một đạo quân đi trước cũng được.

Vua lui ra bảo với Quýnh rằng:

- Ngươi từng dốc lòng với ta, việc nước cũng đã được quá nửa rồi. Vậy nay hãy cố gắng làm cho tròn công trạng trước, đừng để người trong nước có thể bàn tán về ta, và thiên triều có chỗ quở trách được ta.

Lại nói, Lê Quýnh là người làng Đại Mão, huyện Siêu Loại (nay là huyện Thuận Thành, Hà Bắc) vốn là một tay phong lưu công tử, con trai của tiến sĩ triều Lê là Lê Doãn Giản. Khi tuổi trẻ, Quýnh chỉ biết uống rượu, đánh bạc, việc văn việc võ đều chưa hề luyện tập qua. Trước kia vì là con nhà quí tộc thân cận, nên được vào làm gia thần nhà vua. Đến khi quân Tây Sơn tới xâm lấn, kinh thành thất thủ. Quýnh vâng mệnh vua theo hầu thái hậu lên Cao Bằng, rồi bị quân giặc đuổi bắt, phải chạy sang Trung Quốc. Vì Quýnh hơi biết chữ nghĩa, cho nên khi chuyện trò với người Thanh, thường bịa ra nhiều câu khoác lác. Tôn Sỹ Nghị cũng không xét đến chỗ đó, đem lời tâu lên, vua Thanh ưng thuận. Thế rồi may được khôi phục lại nước nhà. Quýnh tự cho là công lao của mình. Sau khi về thành Thăng Long, Quýnh chỉ lo đền ơn trả oán và công nhiên ăn của đút lót. Những tay hào kiệt trong nước đều không ưa Quýnh. Vua cho là Quýnh có công, giao cho cầm quân. Nhưng Quýnh, mắt còn choáng lộn bóng tinh kỳ, tai chưa nghe quen tiếng chiêng trống, nói gì đến chuyện sắp đặt việc binh bị? Quýnh bèn mượn cớ không muốn xa rời cạnh vua, xin vua truyền cho viên trấn thủ Sơn Tây đem quân bản bộ đóng trước ở Giản Khẩu, để chặn đường ra của quân Tây Sơn. Đó là Quýnh cốt cho mình khỏi phải ra trận; còn việc chinh chiến được hay thua, nước nhà còn hay mất, Quýnh chẳng cần biết đến làm gì.
Đọc tiếp...
 
Địa ngục trần gian E-mail
07/11/2007

Image
Tháp canh nhà tù Phú Quốc
Hàng chục ngàn tù binh trên khắp các chiến trường, nhất là sau Tết Mậu Thân, đã bị đưa ra trại tù binh Phú Quốc. Dù đã trải qua hàng loạt nhà tù, hàng loạt sự tra tấn đớn đau, trên một chiến hạm hay phi cơ quân sự đưa ra đảo Phú Quốc, họ bị quăng vào tận cùng của sự tàn bạo giữa biển khơi.

Ông Nguyễn Hữu Minh nhập ngũ tại Nghệ An từ tháng 4-1959, sau đó vào Nam chiến đấu ở đơn vị đặc công rừng Sác. Ông kể: “Tôi đã bị bắt làm tù binh một lần vào năm 1967. Khi đó tôi là lính của đoàn 10 - đặc công rừng Sác, nhân lúc lính gác sơ hở tôi lao xuống sông trốn thoát và trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Đầu năm 1969, khi tôi đang làm đại đội phó đại đội trinh sát của đoàn 10, trong một lần đi lấy nước cho đơn vị, tôi bị địch bắt đưa về Nhà Bè, tra tấn rất dã man, tưởng chết. Hết Nhà Bè rồi Chí Hòa, Hố Nai, chết đi sống lại tôi vẫn không khai, thế là tôi bị đưa ra đảo Phú Quốc vào tháng 7-1969. Tưởng đã trải qua những khủng khiếp nhất của “địa ngục trần gian”, nhưng khi ra Phú Quốc mới thấy các nhà tù khác chưa là gì cả, đó mới chính là tầng sâu thẳm nhất của địa ngục”.

Bố phòng khắp đảo

Trại giam tù binh Phú Quốc thuộc xã Dương Tơ (nay là An Thới), được Mỹ và chính quyền Sài Gòn xây dựng đầu năm 1967. Toàn bộ khu trại rộng khoảng 400ha, tên thường gọi là nhà lao Cây Dừa.

Từ thời nhà Nguyễn, Phú Quốc rất thưa thớt cư dân, đó là nơi trú ngụ của hải tặc trên vịnh Thái Lan. Đảo có chiều dài 50km, chiều rộng 28km, cách đất liền (Rạch Giá) 120km. Trước năm 1945, dân số Phú Quốc chỉ khoảng 6.000 dân, vậy mà từ khi nhà tù được lập ra, lúc cao điểm lượng tù binh lên đến hơn 40.000 người.

Trại giam Phú Quốc được bố phòng rất nghiêm ngặt. Nhiều tù binh ví rằng “đến con ruồi muốn bay ra khỏi đảo cũng là chuyện không thể” vì ngoài bốn tiểu đoàn quân cảnh trực tiếp canh giữ tù binh và lực lượng của bộ tư lệnh vùng 4 hải quân đặt ngay ở An Thới, nhiều đại đội cảnh sát, bảo an bố phòng khắp đảo và trên biển còn có lực lượng đặc nhiệm 41 và các duyên đoàn tuần tra ngày đêm từ An Thới, Nam Du, Hòn Tre, Bắc Đảo cho đến ven biển Rạch Giá, Hà Tiên...

Cập nhật ( 07/11/2007 )
Đọc tiếp...
 
<< Bắt đầu < Trước 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp > Cuối >>

Kết quả 25 - 27 / 31
Hình ảnh lịch sử
Đang xem trang
Chúng ta có 21 khách trực tuyến
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay378
mod_vvisit_counterHôm qua893
mod_vvisit_counterTất cả210959
Design by Joomlateam.com | Powered by Joomlapixel.com |