Lịch sử Việt Nam


Trang chủ
06/09/2010
Lịch sử Việt Nam
Trang chủ
Tin tức
Lược sử tóm tắt
Diễn đàn
Ảnh lịch sử
Chuyên đề
Sự kiện
Nhân vật
Hiện vật
Địa danh, di tích, kiến trúc
Hồi ký
Cổ sử
Đại Việt sử ký toàn thư
Huyền sử, dã sử
Thư viện
Download
Kế hoạch chiến dịch E-mail
03/05/2008

Tối thứ hai đồng chí Vũ Lăng kể tiếp:

“Bữa trước tôi đã nói với anh về những công việc chuẩn bị của chiến trường theo ý đồ của Bộ cuối năm 1974. Khoảng ngaỳ 10 tháng Giêng năm 1975, tôi về tới Chỉ huy sở khu B làm kế hoạch thì nhận được điện của anh Lê Ngọc Hiền, Phó tổng tham mưu trưởng: “Nên đánh mục tiêu A. Nhưng như thế cũng đã đủ rõ rồi. Lúc này anh Hiệp đang làm việc với trung đoàn 25 ở phiá bắc Buôn Ma Thuột. Ngày 13, anh Hiệp nhận được điện trở về. Anh Hiệp, anh Hàm, anh Năng và tôi bàn ngay vào nhiệm vụ mới, coi như nhiệm vụ chính thức đã được Bộ giao. Cũng rất lo về thời gian, dốc sức chuẩn bị cho Đức Lập trên một tháng, nay lại thêm Buôn Ma Thuột, mà ngày nổ súng tấn công trên toàn mặt trận vẫn không thay đổi, khoảng 20 đến 25 tháng Hai. Khó khăn tuy nhiều nhưng cả mấy chúng tôi đều rất vui. Lại nghĩ đến thời cơ lớn của cả cuộc kháng chiến và của riêng mỗi chiến trường. Thị xã Phước Long đã được giải phóng vừa cách một tuần. Làm gọn được Đức Lập sẽ đánh thốc xuống Gia Nghĩa, giải phóng tỉnh Quảng Đức. Phía trên này đánh nhanh Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắc Lắc, có cơ hội giải phóng luôn tỉnh Phú Bổn, ép chặt Plây Cu và Công Tum. Chỉ mường tượng trên bản đồ đã thấy một vùng đỏ rộng lớn kéo dài từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, tạo ra một thế chiến lược cực kỳ lợi hại, không có cách gì đảo ngược được.

“Đánh Buôn Ma Thuột còn có một thuận lợi là địch chưa có sự chuẩn bị. Chúng luôn bị ám ảnh bởi áp lực thường xuyên của ta xung quanh Công Tum và Plây Cu. Nếu có đụng chạm đến cái thị xã phía nam này chắc chỉ là những hoạt động phối hợp, nhằm làm phân tán lực lượng của đối phương. Càng ngày càng tỏ rõ cái ý nghĩ ấy đã đóng chặt vào đầu các cơ quan tham mưu của quân đội ngụy, dẫu khi đã có trong tay nhiều tài liệu chứng tỏ có thể ta sẽ đánh Buôn Ma Thuột chúng vẫn không tin, vẫn nghĩ là một đòn nghi binh, một mưu kế.

Cập nhật ( 03/05/2008 )
Đọc tiếp...
 
Tình hình địch ở Tây Nguyên E-mail
29/04/2008

Trong lúc chờ đợi đồng chí Vũ Lăng kể tiếp công trình chuẩn bị của Chỉ huy sở tiền phương của Bộ cùng Bộ tư lệnh chiến dịch nam Tây Nguyên cho trận đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột, tôi xin giới thiệu một vài tư liệu sẵn có trong tay về tình hình đối phương trong mấy tháng đầu năm 1975 để bạn đọc thêm phần hứng thú.

Trong văn phòng tổng thống của Thiệu, có một nhân vật được gọi là đại tá Cầm, ngoài năm chục tuổi, thấp bé, xấu xí, được Thiệu rất tin cậy, cho giữ “bút tích” của tổng thống tự thảo các diễn văn, các công tư điện quan trọng, các quyết định bổ nhiệm hàng tỉnh trưởng trở lên. Cầm có một người vở cả để ở nhà quê, còn ăn ở với cô vợ nhỏ ở đường Nguyễn Huỳnh Đức, Sài Gòn. Cô này trạc 30 tuổi, là một tay áp-phe có hạng của đất đô thành, rất yêu chồng và nhất là cái chức vụ Phó văn phòng Phủ tổng thống của chồng. Ở phòng khách cô ta treo bức ảnh đức lang quân to bằng nửa người thật, to hơn cả ảnh tổng thống. Những người có việc đến hầu bà vợ nhỏ thường gọi bốc thơm là “Bà Chánh văn phòng”. Muốn chạy chức tỉnh trưởng hoặc trưởng ty cảnh sát, là những chức vụ “đẹp” nhất của ngạch cai trị, không thể không qua tay đại tá Cầm. Dầu muốn chạy của thủ tướng Khiêm hay đại tướng Viên, rút lại vẫn phải qua văn phòng của Thiệu để được xét duyệt lần cuối. Ví như được nghe một nguồn tin thân cận, tức là nguồn tin do do một nhân vật nào đó cố ý hớ hênh nói tuột ra rằng : “Ông Thiệu sắp sửa “nhổ” tỉnh trưởng Long Khánh”, thế là trong vòng vài hôm phải có hàng chục lá đơn đưa đến xin được thế chân. Người làm đơn phải kê khai tướng mạo, học lực và quân vụ cùng với một tấm hình căn cước. Nếu dưới lá đơn không kẹp thêm một tờ ngân phiếu, thì có thể xem như lá đơn bỏ đi, vì sẽ được đưa sau cùng, khi những lá đơn có tiền đã được đệ trình trước kèm theo một vài lời giới thiệu nho nhỏ. Nếu tổng thống phê bên cạnh lá đơn cho gọi đương sự lên xem mặt là coi như xong. Vì ông Thiệu rất coi trọng tướng số, nên khi trình diện phải giữ sao cho có được một bộ mặt con ông cháu cha, đi đứng cho đàng hoàng, ăn nói cho khoan thai là có thể cầm chắc được nghị định bổ nhiệm. Tuy nhiên, số tiền đưa theo lá đơn mới là tiền ứng trước, “nếu như tôi được bổ nhiệm thì sẽ…” cho nên khi được tổng thống ký vào nghị định bổ nhiệm, lập tức đại tá Cầm làm ngay một bản chụp lại, gửi cho đương sự để lấy nốt khoản tiền còn lại kia. Vì nghị định phải đi theo con đường vòng vèo của nó, qua nhiều bộ, nhiều cơ quan, rồi mới tới tay người được bổ nhiệm. Đại để lề luật làm việc ở văn phòng tổng thống là thế, vị trí của đại tá Cầm là thế. Cũng là may mắn cho tôi, trong những tài liệu lưu trữ của cơ quan tuyên huấn quân đoàn 3 lại có mấy tập “bút tích” nọ. Lại có cả một cuốn sổ ghi lại việc hàng ngày của Thiệu, tức là cuốn Agenda năm 1975, bìa vàng. Tôi xin chép lại vài đoạn:

Cập nhật ( 29/04/2008 )
Đọc tiếp...
 
Tình hình chiến trường Tây Nguyên E-mail
23/04/2008

Viết về giai đoạn chuẩn bị cho chiến dịch Tây Nguyên mà không được gặp và hỏi chuyện những đồng chí có trách nhiệm cao nhất thì thật ân hận vô cùng. Theo tôi biết, trong những ngày tháng có tính chất quyết định này, mỗi câp trên đều có cái vất vả, cái anh hùng của mình. Của cấp dưới thì báo chí đã viết và tất cả chúng ta đều rõ. Nhưng còn của cấp trên, của các cơ quan lãnh đạo chiến lược thì chúng ta hầu như chưa được biết. Vả lại, trong chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch sau đó, chiến dịch Hồ Chí Minh, thì sự chuẩn bị của cấp trên hầu như là tất cả. Sự chuẩn bị chính xác và chu đáo tới mức cuộc tiến quân gồm hàng chục vạn quân sĩ nào pháo, nào xe, nào lương thực, nào xăng dầu, đơn vị vào trước, đơn vị đến sau, nhiều ngả nhiều hướng mà vẫn nhịp nhàng, vẫn uyển chuyển, đúng hướng, đúng chỗ, đúng cả thời gian, hệt như một cuộc thao diễn đại quy mô các lực lượng vũ trang cách mạng trong cả nước. Thôi thì, ai viết được phần nào, khía cạnh nào, giai đoạn nào của cuộc tổng tiến công này thì cứ viết. Viết đi rồi viết lại, kẻ trước người sau, năm mười năm nữa rồi chúng ta cũng sẽ có được một pho sử ký thật xứng đáng. Chính anh Lăng, nguyên là Phó tư lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên, quân đoàn trưởng quân đoàn 3, đảm nhiệm hướng tây bắc trong chiến dịch Hồ Chí Minh, cũng lấy làm tiếc cho tôi. Ngay như trong Bộ chỉ huy chiến lược Tây Nguyên, tôi cũng chưa được gặp hai nhân vật chủ chốt là anh Thảo, Trưởng tư lệnh và anh Hiệp, chính ủy. Bao giờ cũng thế, một công trình vừa được hoàn thành, những người anh hùng đã lại rong ruổi dặm dài đến những địa bàn mới, gánh vác những trách nhiệm mới. Tình cờ có được gặp lại họ, bày tỏ ý nguyện của mình, thì chắc chắn sẽ được trả lời: “Những việc làm dạo nọ ấy ư? Thì như các anh đã biết đấy, cũng chỉ là thế thôi” Và lập tức, các đồng chí ấy sẽ thuyết minh với anh về những công việc đang làm với những tính toán, những hy vọng, những lo âu, ánh mắt lấp lánh, giọng nói say sưa, nếu mình không tự chủ thì rất dễ quên bẵng đi cái ý định ban đầu.

Cho nên khi tôi yêu cầu được làm việc với anh Lăng vài ngày, có thể hơn thế nữa nếu như anh có thì giờ, anh tỏ vẻ ngạc nhiên:

‘- Làm thì lâu chứ kể lại có mấy, chỉ một tối là đủ”

Rồi anh lại hỏi tôi:

“-Nhưng biết kể với nhà văn cái gì? Các anh viết văn thì cần những câu chuyện gì?”

Tôi vội trả lời là mọi việc các anh đã làm đều thuộc về văn học cả, không có gì phải lược bỏ. Giả dụ rằng nếu viết tất cả như thế thì sẽ là một bản báo cáo chứ không thể là sáng tác văn học, thì tôi cũng bằng lòng làm người viết báo cáo. Làm báo cáo trước, làm văn học sau, bao giờ rỗi rãi sẽ làm văn, còn lúc này thì cần làm người thuật chuyện. Có lẽ bạn đọc hiện nay cũng đang thích như thế, đang muốn đọc một bản tường trình cặn kẽ như thế? 

Đây là tối thứ nhất anh Lăng nói chuyện.

“Rất tiếc là anh không gặp được tất cả các anh trong Bộ tư lệnh chiến dịch, tức là anh Thảo, anh Hiệp, anh Hàm, anh Năng. Tuy nhiên, chúng tôi đã làm báo cáo tổng kết, bàn bạc và nhất trí với nhau về tất cả các vấn đề lớn, lại được đồng chí Đại tướng Tổng tham mưu trưởng, người chỉ đạo và chỉ huy trực tiếp chiến dịch này xét duyệt và chỉ thị nhiều ý kiến. Như thế cũng đã là may mắn cho công việc của chúng ta rồi. “Tôi về chiến trường Tây Nguyên (còn gọi là B3) thay anh Thảo tháng Sáu năm 1974. Anh Thảo tuy đi nhận nhiệm vụ mới, nhưng kiến thức và kinh nghiệm của anh trong nhiều năm dài ở Tây Nguyên đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Đó cũng là một may mắn cho những người đến sau. Như anh đã biết, trước ngày về đây, tôi làm việc ở Cục tác chiến của Bộ tổng tham mưu, là một cán bộ có trách nhiệm ở một cơ quan chiến lược nên có điều kiện để so sánh, xem xét và tổng kết các kinh nghiệm. Anh Lê Trọng Tấn có nói “Ở Bộ về quân khu nếu làm ăn tốt là do đã có được một tầm nhìn rộng”. Khi đi cũng có giao ước với anh em trong Cục tác chiến là khi nào chuẩn bị những vấn đề mới thì nhớ khêu gợi bọn mình. Nếu được biết trước chiến trường mình nằm trong phương hướng chiến lược thì anh em sẽ chủ động hơn, thời gian chuẩn bị cũng rộng rãi hơn. Tháng 9 năm 1974, Cục tác chiến cũng đã rỉ tai cho biết về ý định của cấp trên trong năm 1975. Dưới này, bọn tôi sau khi đã xem xét tình hình của quân khu cũng tin rằng trong năm 1975 có thể làm được một cái gì đó có tính chất bản lề. “Sau ngày ký hiệp định Pa-ri, để chống lại âm mưu lấn chiếm của chính quyền nguỵ Sài Gòn, chúng ta đã tiêu diệt các cứ điểm địch nằm sâu trong vùng giải phóng như Chư Nghé, như Đắc Pét, như Măng Đen, Măng Búc. Địch co về củng cố tuyến phòng thủ vành đai các thị xã, các trục đường chiến lược và các mục tiêu chủ yếu. Mỹ rút quân, sự viện trợ của Mỹ đối với nguỵ quân dần dần giảm bớt đã tác động rất lớn đến phương thức tác chiến và thủ đoạn chiến thuật của địch. Lực lượng địch bố trí tại năm tỉnh cao nguyên là một sư đoàn (sư 23), 6 liên đoàn biệt động quân và 36 tiểu đoàn bảo an. Thiết giáp thì có 12 chi đoàn, tức là 4 thiết đoàn. Pháo binh có 230 khẩu. Không quân có sư đoàn 6, gồm 4 phi đoàn, khoảng 150 chiếc máy bay các loại. Quân địch như thế là đông, nhưng địa bàn quá rộng, những 45.000 km2 nên hóa ra phải dàn mỏng. Khả năng cơ động của chúng chủ yếu bằng đường bộ, dựa trên 3 trục đường chính: đường 14 chạy suốt hướng bắc-nam tới tận đông nam bộ, đường 19 nối đồng bằng khu 5 lên Plây-cu và đường 21 từ Buôn Mê Thuột đi Khánh Hòa. Đường 7 từ Cheo Reo ra Phú Yên đã từ lâu địch bỏ vì hoạt động của bộ đội địa phương Phú Yên ở khu vực này rất mạnh. Còn vận chuyển đường không cũng là vạn bất đắc dĩ, máy bay vận tải ít, xăng dầu hiếm, không thể mỗi lúc sử dụng tùy tiện được. Có đường thì sẽ có cách khóa đường. Có máy bay thì sẽ có cách khống chế sân bay. Thằng Mỹ lắm lúc còn chết cứng nữa là thằng nguỵ. Đó là một chỗ yếu của địch. Chúng ta sẽ có cách tính toán khoét rộng cái chỗ yếu đó ra. Còn lực lượng của chúng ta ở chiến trường này trong năm 1974? Hết sức lạc quan! 

Cập nhật ( 25/04/2008 )
Đọc tiếp...
 
<< Bắt đầu < Trước 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp > Cuối >>

Kết quả 19 - 21 / 31
Hình ảnh lịch sử
Đang xem trang
Chúng ta có 3 khách trực tuyến
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay542
mod_vvisit_counterHôm qua665
mod_vvisit_counterTất cả209462
Design by Joomlateam.com | Powered by Joomlapixel.com |